Hôm nay, Thứ sáu ngày 03/07/2020,

Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở Yên Mô sau 25 năm tái lập huyện

Thứ tư, 28/08/2019 | Đã xem: 262 | Nhận xét: 10
  • Đánh giá cho bài viết:
  • 0 điểm ( 0 đánh giá )

Năm 1994, khi tái lập huyện, CN-TTCN của huyện chưa phát triển, toàn huyện chỉ có 05 doanh nghiệp nhà nước; 02 hợp tác xã gạch ngói và hơn 5.000 lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp; làng nghề chưa phát triển.

Giá trị tổng sản lượng ngành CN-TTCN năm 1995 đạt 14,27 tỷ đồng (giá cố định 1994) chiếm tỷ trọng 8 % trong cơ cấu kinh tế của huyện.

Ngay từ khi tái lập huyện các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã xác định và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng CN-TTCN và dịch vụ, từng bước thực hiện CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn. Ban chấp hành đảng bộ huyện đã ban hành 02 nghị quyết chuyên đề về đẩy mạnh phát triển CN-TTCN.

Trong 25 năm qua, với sự nỗ lực cố gắng của cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhiều công sở, trường học đã được xây dựng khang trang, hàng chục ngàn nhà dân được xây kiên cố, nhiều tầng, hàng trăm km đường GTNT được rải nhựa, bê tông hóa, hàng ngàn nhà máy, nhà xưởng được xây dựng; hàng trăm km đường dây điện và trạm biến áp được xây mới đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của hơn 31.000 hộ dân trong toàn huyện. Đến năm 2019 toàn huyện có 428 doanh nghiệp (Trong đó có hơn 100 doanh nghiệp hoạt động thường xuyên trong lĩnh vực CN-TTCN và thương mại), tham gia sản xuất, kinh doanh trong các ngành khai thác mỏ, SX VLXD, chế biến các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất mộc dân dụng, sửa chữa cơ khí, sản xuất gốm sứ…

Dây chuyền sản xuất tại công ty TNHH Thịnh Lộc

Trên địa bàn huyện, hiện có 12 công ty, Doanh nghiệp khai thác mỏ đất sét, đá để sản xuất vật liệu xây dựng, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động. Năm 1995 toàn huyện chỉ có 2.451 lao động chuyên và 3.000 lao động thời vụ tham gia sản xuất trong lĩnh vực CN-TTCN (chiếm 4,7% tổng số lao động) đến năm 2019, toàn huyện đã có 18.000 lao động chiếm 14,5% và khoảng 12.000 lao động thời vụ, với mức thu nhập bình quân đạt 4,5 – 5,5 triệu đồng/tháng.

Giá trị sản xuất CN-TTCN giai đoạn 1995-2005 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 12,7%.

Giai đoạn 2006-2015 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 11,8% năm.

Giá trị sản xuất Công nghiệp-TTCN năm 2018 đạt 940 tỷ đồng, đạt 111% mục tiêu của Nghị quyết (Chiếm 20,46% tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm 2018, đạt 123,47% mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII).

Năm 2019, giá trị sản xuất CN-TTCN ước đạt 1.100 tỷ đồng, gấp 40 lần so với năm 1995 và 9 lần so với năm 2010. Tỷ trọng giá trị sản xuất CN-TTCN trong cơ cấu kinh tế tăng dần qua các năm: Năm 2000: 7,4%; năm 2005: 10,3%; năm 2010: 11,7%; năm 2015: 17,2%. Năm 2019 ước đạt 21%.

Trong những năm qua, giá trị sản xuất ngành CN-TTCN đều đạt và vượt kế hoạch giao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng CN-TTCN và dịch vụ, đồng thời tạo được nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Huyện đã quy hoạch được 04 Cụm công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch là 156,41 ha (trong đó: CCN Mai Sơn 43,05ha; CCN Khánh Thượng 49,936ha; CCN Yên Thổ 14ha; CCN Yên Lâm 50ha) và 17 Điểm Công nghiệp tại các xã, thị trấn. Thời điểm tháng 7/2019, Cụm Công nghiệp Mai Sơn đã có 09 nhà đầu tư, Cụm Công nghiệp Khánh Thượng đang triển khai san lấp mặt bằng 49,936 ha, đã có 03 nhà đầu tư cam kết vào đầu tư trong năm 2019-2020.

Đến năm 2019, toàn huyện đã có 11 làng nghề được UBND tỉnh công nhận là làng nghề cấp tỉnh và 01 làng có nghề truyền thống (Làng nghề gốm cổ Bồ Bát, xã Yên Thành).

Đến hết năm 2018 đã giải quyết việc làm cho 6.800 lao động mới (Năm 2016: 1.450 người; Năm 2017: 1850 người và năm 2018: 3.300 người, tập trung chủ yếu tại các doanh nghiệp: Công ty TNHH Master Vina, Công ty TNHH may Trường Thịnh, Công ty TNHH giầy da Athenna…) đạt 68% mục tiêu Nghị quyết. Duy trì việc làm cho hơn 15.000 lao động thời vụ tại các làng nghề cấp tỉnh và các thôn, xóm có nghề thủ công mỹ nghệ tại các xã Yên Nhân, Yên từ, Yên Phong, Khánh Thịnh, Yên Hưng, thị trấn Yên Thịnh…

Làng có nghề Gốm cổ Bồ Bát đã được UBND tỉnh công nhận và quan tâm hỗ trợ khôi phục, duy trì và phát triển. Năm 2017, Công ty TNHH bảo tồn và phát triển Gốm Bồ Bát đã được UBND tỉnh cho thuê 5.000 m2 đất để xây dựng nhà xưởng; đến nay, Công ty đã xây dựng xong 3.000 m2 nhà xưởng, lắp ráp các dây chuyền công nghệ, thiết bị, bước đầu đi vào sản xuất ổn định. Năm 2018, công ty đã sản xuất được 26.000 sản phẩm các loại, đạt doanh thu trên 5 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho hơn 30 lao động địa phương với mức thu nhập 5 -7 triệu đồng/người/tháng.

Đ/c Nguyễn Thị Thanh, UVBCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh thăm công ty TNHH bảo tồn và phát triển Gốm Bồ Bát.

Để CN-TTCN đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm (giai đoạn 2014 – 2020)  trên 11%/năm; giá trị CN-TTCN và xây dựng chiếm tỷ trọng > 35% trong cơ cấu kinh tế của huyện; đến năm 2020, giá trị CN-TTCN đạt 1.200 tỷ đồng (Giá so sánh 2010). Hàng năm tạo việc làm mới cho 500-700 lao động. Phấn đấu lấp đầy trên 50% diện tích các Cụm công nghiệp được quy hoạch, 100% các Cụm công nghiệp có nhà đầu tư. Yên Mô tiếp tục thực hiện đồng bộ những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân về vai trò, ý nghĩa của phát triển CN-TTCN và ngành nghề nông thôn trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, hoàn thành các mục tiêu xây dựng nông thôn mới.

 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển CN – TTCN và ngành nghề nông thôn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ban hành cơ chế, chính sách cụ thể, thiết thực để hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất CN-TTCN và ngành nghề nông thôn,  tập trung đẩy mạnh phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề có thế mạnh, ngành nghề mới như: thảm cói, thêu ren, tết bện phụ phẩm nông nghiệp, gốm sứ, đồ mộc cao cấp, chế biến nông sản thực phẩm, gạch đất nung (tuynel), đá xây dựng, đá mỹ nghệ… Hỗ trợ chi phí thuê đất, giao đất: Huyện chịu trách nhiệm giải phóng mặt bằng các Cụm công nghiệp, điểm công nghiệp trước khi giao cho doanh nghiệp và hỗ trợ tối đa 30% tổng chi phí giải phóng mặt bằng. Hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: Từ 10 – 20% tổng chi phí dự án. Tăng cường công tác khuyến công, kiện toàn hệ thống khuyến công từ huyện đến cơ sở. Coi trọng các hình thức khuyến công, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ phụ trách khuyến công. Tổ chức các lớp dạy nghề, tập huấn kỹ thuật cho nông dân, xây dựng các mô hình điểm, có sơ kết, tổng kết để mở rộng ngành nghề. Quan tâm xây dựng, củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, các HTX ngành nghề, các tổ hợp sản xuất trong việc cung ứng nguyên vật liệu, hướng dẫn kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm. Có chính sách hỗ trợ khuyến khích các HTX và doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đưa nghề mới có khả năng thu hút nhiều lao động, có tính ổn định và lâu dài về triển khai và nhân rộng trên địa bàn huyện, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho xã Yên Thành và các nghệ nhân khôi phục và phát triển nghề gốm cổ tại thôn Bạch Liên.

Với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp ủy, chính quyền địa phương, ngành CN-TTCN và ngành nghề nông thôn huyện Yên Mô sẽ ngày càng phát triển, góp phần xây dựng quê hương Yên Mô ngày thêm giàu đẹp văn minh, vững bước trên con đường đổi mới./.

                                                                   PHÒNG HẠ TẦNG – KINH TẾ

Nhận xét của bạn đọc

Vui lòng nhập đầy đủ thông tin